Sinh ra trong cảnh đất nước chìm trong đêm dài nô lệ, nhân dân sống dưới ách áp bức của thực dân phong kiến, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm mang trong mình khát vọng cháy bỏng tìm con đường giải phóng dân tộc. Chứng kiến đồng bào lầm than, đất nước mất độc lập, Người hiểu rằng muốn cứu nước phải tìm ra con đường mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu cho hành trình cách mạng đầy gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.
Trong gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã đi qua nhiều quốc gia, làm nhiều nghề để kiếm sống và trực tiếp tìm hiểu thực tiễn xã hội các nước. Dù ở đâu, Người vẫn luôn đau đáu nỗi niềm về quê hương, về đồng bào đang chịu cảnh lầm than. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam – con đường cách mạng vô sản.
Năm 1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" tới Hội nghị Véc-xây, đòi quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho dân tộc Việt Nam. Đây là tiếng nói mạnh mẽ của một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng không cam chịu mất nước. Năm 1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng cách mạng của mình. Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức.
Những năm tiếp theo, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đào tạo cán bộ cách mạng và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, mở ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng nước ta.
Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập Hội nghị Trung ương 8, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ cách mạng và lực lượng vũ trang. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân vượt qua muôn vàn gian khổ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang. Đặc biệt, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", khẳng định ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Người luôn dành trọn niềm tin và tình cảm cho đồng bào cả nước, khẳng định chân lý bất diệt: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
Không chỉ là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn hóa lớn, nhà báo cách mạng lỗi lạc và chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Người luôn đề cao vai trò của văn hóa, đạo đức và giáo dục trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Cuộc đời của Người là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, đức hy sinh, tinh thần giản dị và ý chí cách mạng kiên cường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho độc lập dân tộc, tự do của Nhân dân và hòa bình của nhân loại. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Học tập và làm theo Bác, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm đoàn kết, đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, thực hiện khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng với công lao to lớn của Người.